Danh sách khóa học

Đánh giá chức năng tâm thất thai nhi bằng siêu âm tim: hướng dẫn chuyên gia Fetal Heart Society (UOG 2026)

24/10/2026 |Đăng bởi: BSPHONCDHA
Ảnh bìa: Đánh giá chức năng tâm thất thai nhi bằng siêu âm tim: hướng dẫn chuyên gia Fetal Heart Society (UOG 2026)

Đánh giá chức năng tâm thất là phần không thể thiếu của siêu âm tim thai. Tháng 7/2026, tạp chí Ultrasound in Obstetrics & Gynecology (ISUOG) công bố hướng dẫn thực hành của các chuyên gia thuộc Hội Tim thai (Fetal Heart Society), trình bày từng bước cách đánh giá chức năng thất thai nhi: từ nhận định bằng mắt, các thông số 2D, Doppler, đến kỹ thuật mới như sức căng cơ tim và 3D/STIC. Bài viết dưới đây tóm lược và giải thích bằng tiếng Việt toàn bộ những điểm thực hành quan trọng nhất, kèm hình minh họa gốc của bài báo.

Những điểm chính (Key points)

  • Ở phần lớn các ca siêu âm tim thai thường quy, đánh giá định tính (nhìn co bóp hai thất, loại trừ tim to và hở van nhĩ – thất, Doppler dòng đổ đầy và áp lực tĩnh mạch trung tâm) là đủ.
  • Thai có nguy cơ rối loạn chức năng thất (truyền máu song thai, viêm cơ tim, bệnh cơ tim, kháng thể kháng SSA/SSB của mẹ, co thắt ống động mạch, hẹp van, bệnh lý bánh rau, rối loạn nhịp, tổn thương cung lượng cao) cần được đánh giá định lượng.
  • Không có thông số nào đủ một mình. Nên phối hợp nhiều thông số: SF, EF, FAC (2D) với Doppler dòng đổ đầy, MPI, TAPSE/MAPSE.
  • Thang điểm hồ sơ tim mạch (CVP score) giúp đánh giá tổng thể mức độ suy tim; CVP ≤ 7 cho thấy nguy cơ cao tử vong trong tử cung hoặc sau sinh.
  • Sức căng cơ tim (strain) và thể tích 3D/STIC là kỹ thuật hứa hẹn nhưng chưa dùng thường quy.

Vì sao chức năng tâm thất thai nhi lại quan trọng?

Tuần hoàn thai có những đặc điểm riêng: hai thất dùng chung tiền gánh và cùng tạo nên cung lượng tim kết hợp; hậu gánh là bánh rau có sức cản thấp; hệ tuần hoàn đòi hỏi áp lực đổ đầy thất thấp. Khi sinh ra, các shunt của thai đóng lại và bánh rau tách ra đột ngột, nên trẻ đã có rối loạn chức năng thất từ trong tử cung dễ mất ổn định huyết động ngay sau sinh. Vì vậy, đánh giá chính xác chức năng thất trước sinh là cơ sở để lên kế hoạch theo dõi, chọn thời điểm và nơi sinh, chuẩn bị hồi sức sơ sinh.

Theo nhóm tác giả, một số tình huống điển hình cần đánh giá kỹ:

  • Hội chứng truyền máu song thai: thai nhận có thể có dấu hiệu rối loạn chức năng thất trước cả khi thay đổi lượng nước ối hay chênh lệch phát triển với thai cho.
  • Bệnh lý cơ tim: viêm cơ tim do virus, bệnh cơ tim, viêm cơ tim miễn dịch (kháng thể SSA/SSB).
  • Tăng hậu gánh: co thắt ống động mạch sớm, hẹp van, bệnh lý bánh rau.
  • Rối loạn nhịp tim thai và tổn thương cung lượng cao.

1. Đánh giá chức năng tâm thu

Đánh giá định tính: bước bắt buộc ở mọi lần siêu âm

Các hướng dẫn hiện hành khuyên đánh giá định tính chức năng hai thất ở mọi lần siêu âm tim thai, dựa trên chuyển động thành thất, độ dày thành tim khi co và thay đổi kích thước buồng thất trên mặt cắt bốn buồng hoặc trục ngắn. Một số lưu ý kỹ thuật:

  • Chọn đầu dò, độ sâu và độ rộng chùm quét phù hợp để giữ độ phân giải không gian.
  • Gain quá cao làm thành thất trông dày và che mất co bóp; gain quá thấp khiến thất trông như “không co”.
  • Tránh ấn đầu dò mạnh lên tử cung, vì nhịp tim thai thay đổi đột ngột làm sai lệch đánh giá 2D và Doppler.
  • Hai thất phải co đối xứng. Cần loại trừ bất thường vận động toàn bộ và từng vùng (vô động, loạn động), như trong phình thất hay bất thường Ebstein. Co bóp không đối xứng gợi ý rối loạn chức năng một thất, như khi hở hoặc hẹp nặng van bán nguyệt.

Đánh giá định tính nhanh và hữu ích nhưng chủ quan. Khi thai có nguy cơ hoặc có dấu hiệu tổn thương tim mạch (tim to, hở van nhĩ – thất, phù thai), cần chuyển sang đánh giá định lượng, và luôn diễn giải kết quả trong bối cảnh lâm sàng.

Phân suất co ngắn (SF) bằng M-mode

Hình 1. Đo phân suất co ngắn (SF). (a) Mặt cắt bốn buồng được tối ưu, tim chiếm hơn 2/3 khung hình; đường M-mode cắt vuô
Hình 1. Đo phân suất co ngắn (SF). (a) Mặt cắt bốn buồng được tối ưu, tim chiếm hơn 2/3 khung hình; đường M-mode cắt vuông góc qua thành tự do thất phải, vách liên thất và thành tự do thất trái, ngay dưới vòng van hai lá. (b) Trên M-mode đo đường kính cuối tâm trương (EDD, lớn nhất) và cuối tâm thu (ESD, nhỏ nhất); SF (%) = (EDD − ESD)/EDD × 100. (c) Có thể đo SF trên mặt cắt trục ngắn ngang mức cơ nhú. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.
  • Lấy mặt cắt bốn buồng hoặc trục ngắn, thành thất trước, sau và vách liên thất nằm ngang; phóng đại để tim chiếm hơn 2/3 khung hình.
  • Đặt đường M-mode ngang mức cơ nhú van hai lá, khoảng giữa vòng van và mỏm thất trái, vuông góc với vách liên thất.
  • Dùng chế độ hai màn hình (2D + M-mode) để kiểm tra vị trí đường cắt.
  • Giá trị bình thường, không phụ thuộc tuổi thai: LV-SF > 28%, RV-SF > 24%.

TAPSE và MAPSE

Hình 2. Đo TAPSE và MAPSE. (a) Mặt cắt bốn buồng từ mỏm, đường M-mode (nét đứt) đi từ mỏm thất tới phía bên của vòng van
Hình 2. Đo TAPSE và MAPSE. (a) Mặt cắt bốn buồng từ mỏm, đường M-mode (nét đứt) đi từ mỏm thất tới phía bên của vòng van ba lá và hai lá. (b) M-mode ghi lại chuyển động dọc của vòng van; TAPSE/MAPSE là quãng đường vòng van di chuyển giữa tâm thu và tâm trương (mũi tên hai đầu). (c) Dùng STIC để đo TAPSE ở thai 26 tuần bị phù, khi tư thế thai không thuận lợi cho M-mode. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.

TAPSE (vòng van ba lá) và MAPSE (vòng van hai lá) đo biên độ dịch chuyển dọc của vòng van giữa tâm trương và tâm thu, phản ánh chức năng tâm thu và tăng dần theo tuổi thai. Vì thất phải co chủ yếu theo trục dọc còn thất trái co nhiều theo trục ngắn, thông số này phản ánh tốt hơn chức năng thất phải. Khoảng giá trị thường gặp: MAPSE 2,87–5,56 mm, TAPSE 2,34–4,21 mm (có bảng tham chiếu theo tuổi thai). Khi tư thế thai không thuận lợi, STIC cho phép xoay khối thể tích để đặt đường M-mode chuẩn hơn.

Phân suất tống máu (EF) và phân suất thay đổi diện tích (FAC)

Hình 3. Đo phân suất tống máu (EF) và phân suất thay đổi diện tích (FAC). (a, b) Vẽ bờ nội mạc thất trái cuối tâm trương
Hình 3. Đo phân suất tống máu (EF) và phân suất thay đổi diện tích (FAC). (a, b) Vẽ bờ nội mạc thất trái cuối tâm trương và cuối tâm thu trên mặt cắt bốn buồng từ mỏm với tốc độ khung hình cao (> 60 hình/giây) để tính EDV, ESV và EF. (c, d) Đo diện tích thất phải cuối tâm trương và cuối tâm thu; ở thai 20 tuần minh họa, FAC = (0,89 − 0,61)/0,89 × 100 = 31%. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.
  • EF = (EDV − ESV)/EDV × 100. Đo theo phương pháp Simpson trên mặt cắt bốn buồng từ mỏm, tốc độ khung hình > 60 hình/giây, tránh làm ngắn buồng thất. Chọn khung hình cuối tâm trương (buồng lớn nhất, ngay trước khi van nhĩ – thất đóng) và cuối tâm thu (buồng nhỏ nhất, ngay trước khi van mở).
  • EF thất trái trung bình theo Simpson một mặt phẳng là 60–70% ở quý 2 và quý 3, và không nên dưới 55%.
  • EF kém chính xác với thất phải và tim một thất vì hình dạng không phải elip. Khi đó FAC là lựa chọn phù hợp: FAC = (diện tích cuối tâm trương − diện tích cuối tâm thu)/diện tích cuối tâm trương × 100.
  • FAC thất trái lớn hơn thất phải, và cả hai giảm dần theo tuổi thai ít nhất đến đầu quý 3. RV-FAC trung bình khoảng 36% ở tuần 18, giảm còn 29% khi đủ tháng.
  • Hạn chế: khó xác định bờ nội mạc khi hình ảnh kém, và phụ thuộc tải. Ở tổn thương cung lượng cao, EF và FAC có thể tăng dù cơ tim đã suy.

2. Đánh giá chức năng tâm trương

Hình 4. Đánh giá chức năng tâm trương bằng Doppler xung. (a) Dòng đổ đầy qua van hai lá và ba lá bình thường có hai pha
Hình 4. Đánh giá chức năng tâm trương bằng Doppler xung. (a) Dòng đổ đầy qua van hai lá và ba lá bình thường có hai pha (sóng E và sóng A), kéo dài gần nửa chu chuyển tim. (b) Dòng đổ đầy một pha, rất ngắn, ở thai bệnh cơ tim giãn. (c) Phổ tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch gan bình thường có ba pha. (d) Khi áp lực đổ đầy tăng: mất dòng đầu tâm trương, sóng A đảo ngược tăng dần. (e) Ống tĩnh mạch bình thường không có dòng đảo ngược. (f) Sóng A đảo ngược ở ống tĩnh mạch khi chức năng tim kém. (g) Tĩnh mạch rốn đập theo nhịp, giảm hoặc mất dòng khi nhĩ co. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.

Chức năng tâm trương được đánh giá bằng Doppler xung tại van nhĩ – thất và các tĩnh mạch hệ thống, tĩnh mạch phổi:

  • Đặt cửa sổ Doppler tại đầu lá van nhĩ – thất, chùm tia song song dòng chảy (góc < 20°). Đo vận tốc sóng E, sóng A, tỉ lệ E/A và thời gian đổ đầy, so với giá trị tham chiếu theo tuổi thai.
  • Ở thai bình thường, sóng A cao hơn sóng E, nhưng dòng đổ đầy vẫn có hai pha từ sau tuần 10.
  • Khi rối loạn chức năng thất (bệnh cơ tim, truyền máu song thai, một số dị tật tim gây suy tim), dòng đổ đầy trở nên một pha và ngắn. Ngược lại, tim bị chèn ép bởi khối trong lồng ngực hay tràn dịch cho dòng hai pha với sóng E ưu thế.
  • Khi áp lực đổ đầy tăng nhiều: mất dòng đầu tâm trương và tăng sóng A đảo ngược ở tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh mạch gan; sóng A đảo ngược ở ống tĩnh mạch; cuối cùng là tĩnh mạch rốn đập theo nhịp. Phù thai không do miễn dịch có thể xuất hiện, kèm nguy cơ thai chết đột ngột do thiếu oxy.
  • Phổ tĩnh mạch phổi có sóng A đảo ngược phản ánh rối loạn chức năng tâm trương thất trái.

3. Cung lượng tim

Hình 5. Tính cung lượng thất trái và thất phải. Đo đường kính vòng van động mạch chủ và động mạch phổi thì tâm thu, tính
Hình 5. Tính cung lượng thất trái và thất phải. Đo đường kính vòng van động mạch chủ và động mạch phổi thì tâm thu, tính diện tích cắt ngang (CSA = π × (đường kính/2)²). Doppler xung qua van, chùm tia song song dòng chảy và không chỉnh góc, vẽ phổ để có tích phân vận tốc theo thời gian (VTI). Thể tích nhát bóp = CSA × VTI; cung lượng thất = thể tích nhát bóp × nhịp tim. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.
  • Cung lượng mỗi thất = π × (đường kính van/2)² × VTI × nhịp tim. Cung lượng tim kết hợp (CCO) = tổng hai thất, chia cho cân nặng thai ước tính (mL/phút/kg), hoặc quy ra Z-score.
  • Đường kính van đo giữa tâm thu trên mặt cắt ngang. Đo đường kính phải thật chính xác vì sai số được bình phương lên.
  • Doppler song song dòng chảy, góc càng gần 0° càng tốt, không chỉnh góc, lấy 2–3 chu chuyển tim.
  • CCO hữu ích trong phù thai chưa rõ nguyên nhân và các tổn thương cung lượng cao: thiếu máu thai, u mạch, dị dạng động – tĩnh mạch, tĩnh mạch rốn đổ ngoài gan, thai “bơm” trong song thai đảo ngược động mạch (TRAP). CCO > 600 mL/phút/kg liên quan đến tăng nguy cơ kết cục xấu.

4. Chỉ số hoạt động cơ tim (MPI, chỉ số Tei)

Hình 6. Đo chỉ số hoạt động cơ tim (MPI). (a) Thất trái: đặt cửa sổ Doppler trong buồng thất để ghi đồng thời dòng vào v
Hình 6. Đo chỉ số hoạt động cơ tim (MPI). (a) Thất trái: đặt cửa sổ Doppler trong buồng thất để ghi đồng thời dòng vào và dòng ra; đo “a” (từ cuối dòng vào này đến đầu dòng vào kế tiếp) và “b” (thời gian tống máu); MPI = (a − b)/b. (b, c) Thất phải: ghi riêng dòng vào và dòng ra. (d) Tử số (a − b) bằng tổng thời gian giãn đồng thể tích (IRT) và co đồng thể tích (ICT). (e) MPI cũng đo được bằng Doppler mô. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.
  • MPI = (ICT + IRT)/ET, gộp cả chức năng tâm thu và tâm trương thành một chỉ số “toàn bộ”; MPI tăng khi chức năng thất giảm.
  • Thất trái: đặt cửa sổ Doppler trong buồng thất trái ở vị trí bắt được đồng thời dòng vào và dòng ra. Dùng “tiếng click van” (vạch dọc sáng mảnh khi van đóng) để đo chính xác, tăng tốc độ quét để giãn phổ.
  • Thất phải: đo lần lượt dòng qua van ba lá và van động mạch phổi; nhịp tim giữa hai lần đo không chênh quá 10 nhịp/phút.
  • Ở thai bình thường, MPI trung bình khoảng 0,40 ở tuần 12 và tăng lên 0,58 khi đủ tháng.
  • Ưu điểm: không phụ thuộc hình dạng thất, lặp lại tốt, phát hiện sớm suy cơ tim (ví dụ bệnh cơ tim ở thai nhận trong truyền máu song thai).
  • Hạn chế: phụ thuộc người đo (sai số nhỏ gây khác biệt lớn), cần nhịp tim bình thường, và phụ thuộc hậu gánh: MPI tăng khi tắc nghẽn đường ra, co thắt ống động mạch hay tăng sức cản bánh rau dù co bóp cơ tim bình thường. Khi MPI bất thường, xem riêng IRT và ICT để hiểu rõ bản chất rối loạn.

5. Kỹ thuật mới: sức căng cơ tim và 3D/STIC

Hình 7. Đánh giá sức căng cơ tim (strain). (a) Sức căng thất trái trên mặt cắt bốn buồng từ mỏm, bằng siêu âm đánh dấu m
Hình 7. Đánh giá sức căng cơ tim (strain). (a) Sức căng thất trái trên mặt cắt bốn buồng từ mỏm, bằng siêu âm đánh dấu mô (speckle tracking): vẽ bờ nội mạc, phần mềm theo dõi các “đốm” cơ tim suốt chu chuyển và vẽ đường cong sức căng. (b) Tương tự với thất phải. Cần tốc độ khung hình cao; giá trị có thể khác nhau giữa các phần mềm. Nguồn: Patel và cộng sự, Ultrasound Obstet Gynecol 2026 (CC BY 4.0); chú thích dịch sang tiếng Việt.
  • Sức căng dọc toàn bộ (GLS) đo bằng siêu âm đánh dấu mô trên mặt cắt bốn buồng từ mỏm, tốc độ khung hình cao (lý tưởng > 80 hình/giây), 3–5 chu chuyển tim không có cử động thai. GLS từ −20% đến −25% được xem là bình thường; giá trị kém âm hơn gợi ý rối loạn chức năng.
  • Hạn chế của strain: độ lặp lại chưa cao (nhất là khi phân tích hồi cứu), giá trị khác nhau giữa các hãng máy. Nên phân tích ở tốc độ khung hình gốc, không nén ảnh khi lưu.
  • 3D/STIC đo thể tích trực tiếp, không dựa vào giả định hình học, nên có thể tốt hơn với thất phải và tim một thất. Tuy nhiên phụ thuộc người làm, tốn thời gian, nhạy với cử động thai và rối loạn nhịp; hiện chủ yếu dùng trong nghiên cứu.

6. Thang điểm hồ sơ tim mạch (CVP score)

CVP score gồm 5 nhóm dấu hiệu, mỗi nhóm tối đa 2 điểm, tổng 10 điểm:

  1. Phù thai.
  2. Tim to (tỉ lệ diện tích tim/lồng ngực).
  3. Chức năng cơ tim bất thường (theo các thông số ở trên).
  4. Doppler động mạch rốn bất thường.
  5. Doppler tĩnh mạch bất thường.

Điểm bình thường là 10/10. CVP có giá trị tiên lượng cao trong dị tật tim nguy cơ cao và trong thai chậm tăng trưởng không có dị tật tim. CVP ≤ 7 báo hiệu nguy cơ cao tử vong trong tử cung hoặc sau sinh.

Phân độ, báo cáo và theo dõi

  • Chưa có hệ thống phân độ chung cho rối loạn chức năng thất thai. Có thể dùng khung thực dụng: nhẹ khi bất thường kín đáo hoặc đơn độc; trung bình khi nhiều thông số cùng bất thường; nặng khi có ảnh hưởng huyết động rõ và CVP giảm.
  • Báo cáo nên gồm: chức năng tâm thu toàn bộ hai thất, kiểu dòng đổ đầy và hở van nhĩ – thất, dấu hiệu sung huyết tĩnh mạch, giãn buồng tim hoặc tim to, tràn dịch, phù thai, và CVP score khi phù hợp.
  • Theo dõi nối tiếp là then chốt, vì rối loạn chức năng thất thường tiến triển, có thể khởi đầu bằng rối loạn tâm thu, tâm trương hoặc cả hai. Kết quả cần được đưa vào kế hoạch theo dõi, sinh và hồi sức sơ sinh.

Ứng dụng trong thực hành siêu âm tại Việt Nam

  • Mọi ca: nhìn co bóp hai thất đối xứng, loại trừ tim to, hở van nhĩ – thất; Doppler ống tĩnh mạch khi có chỉ định.
  • Thai nguy cơ: tối thiểu nên có SF (M-mode), Doppler dòng đổ đầy hai van nhĩ – thất, MPI thất trái, Doppler ống tĩnh mạch và tĩnh mạch rốn; thêm TAPSE/MAPSE, FAC khi có điều kiện.
  • Chuẩn hóa quy trình trong từng đơn vị (cách lấy hình, cách đo) để kết quả lặp lại được giữa các bác sĩ và giữa các lần khám.

Kết luận

Với phần lớn ca siêu âm tim thai, đánh giá định tính là đủ; nhưng thai có nguy cơ rối loạn chức năng thất cần được đánh giá định lượng và theo dõi nối tiếp. Phối hợp thông số 2D (SF, EF, FAC) với thông số Doppler (dòng đổ đầy, MPI, TAPSE/MAPSE) giúp đánh giá tổng thể chính xác hơn và tạo mốc so sánh cho các lần sau. CVP score bổ sung cái nhìn toàn diện về suy tim thai và tổn thương thai – bánh rau, hỗ trợ quyết định thời điểm sinh.

Câu hỏi thường gặp

Giá trị bình thường của phân suất co ngắn (SF) thất trái thai nhi là bao nhiêu?
Theo hướng dẫn, LV-SF bình thường lớn hơn 28% và RV-SF lớn hơn 24%, không phụ thuộc tuổi thai.

Chỉ số MPI (Tei) thai nhi bình thường là bao nhiêu?
Ở thai bình thường, MPI trung bình khoảng 0,40 ở tuần 12 và tăng lên khoảng 0,58 khi đủ tháng. MPI tăng khi chức năng thất giảm, nhưng cũng tăng khi hậu gánh tăng.

CVP score bao nhiêu là nguy hiểm?
Điểm bình thường là 10/10; CVP từ 7 trở xuống cho thấy nguy cơ cao tử vong trong tử cung hoặc sau sinh.

Tài liệu tham khảo

Patel SR, Madan N, Eckersley L, Roytman Z, Perez M, Gindes L, Hornberger LK. How to assess ventricular function by fetal echocardiography: expert guidance from the Fetal Heart Society. Ultrasound Obstet Gynecol. 2026;68(1):140–151. DOI: 10.1002/uog.70276 · PubMed: 42390214 · Toàn văn: PMC13325693.

Bài gốc được công bố truy cập mở theo giấy phép Creative Commons Ghi công 4.0 (CC BY 4.0). Bài viết này là bản tóm lược và biên dịch tiếng Việt do BSPHONCDHA thực hiện; các hình minh họa lấy từ bài gốc, chú thích được dịch và rút gọn sang tiếng Việt. Bài viết mang tính thông tin, không thay thế tư vấn trực tiếp của bác sĩ sản khoa theo dõi thai kỳ của bạn.

Học sâu hơn về siêu âm tim thai: Sách Siêu âm tim thai 2024 – Tim bình thường và bất thường · Gói thành viên BSPHONCDHA

Bình luận

Để lại một bình luận

Gọi ngay
chat-active-icon chat-active-icon