Khoảng một nửa số thai phụ nhập viện vì dọa sinh non cuối cùng vẫn sinh gần đủ tháng hoặc đủ tháng. Những thai kỳ này thường được xem là “đã qua cơn nguy hiểm” và không được theo dõi gì thêm về tim mạch. Nghiên cứu tiến cứu mới của nhóm BCNatal (Barcelona) đăng trên Ultrasound in Obstetrics & Gynecology (2026) cho thấy điều ngược lại: tim của những thai này đã tái cấu trúc, chủ yếu ở thất phải, và thay đổi vẫn còn sau 4 tuần. Bài viết tóm lược chi tiết nghiên cứu, kèm hình gốc.
Những điểm chính (Key points)
- Nghiên cứu so sánh 32 thai bị dọa sinh non (không nhiễm trùng hay viêm trong buồng ối, sinh từ 34 tuần trở lên, 84,4% sinh đủ tháng) với 43 thai đối chứng cùng tuổi thai.
- Ngay khi nhập viện, thai dọa sinh non có tim tròn hơn (chỉ số cầu hóa 1,17 so với 1,23), nhĩ phải lớn hơn, TAPSE tăng và E/A van ba lá giảm.
- Troponin I trong nước ối (chỉ điểm tổn thương cơ tim) cao hơn có ý nghĩa; NT-proBNP phát hiện được ở 25% ca, không có ở nhóm chứng.
- Sau 4 tuần: chức năng tâm thu đã bình thường nhưng tim vẫn tròn, thất phải lớn hơn và rối loạn chức năng tâm trương thất phải vẫn tồn tại.
- Thay đổi khu trú ở tim phải, không phì đại cơ tim, không tim to; khác với kiểu phì đại đồng tâm khi có viêm – nhiễm trùng ối.
Dọa sinh non là gì và vì sao cần quan tâm đến tim thai?
Chuyển dạ sinh non (PTL) là có cơn co tử cung đều trước 37 tuần, ối còn, kèm cổ tử cung ngắn dần hoặc mở. Dù đã có nhiều tiến bộ trong dự báo, khoảng 50% thai phụ nhập viện vì chuyển dạ sinh non cuối cùng vẫn sinh gần hoặc đủ tháng. Những trường hợp này gọi là dọa sinh non (threatened PTL), chiếm khoảng 1% số ca sinh đủ tháng.
Kết cục tưởng như thuận lợi, nhưng trẻ có tiền sử dọa sinh non lại có nguy cơ nhẹ cân và chậm phát triển thần kinh cao hơn (vận động, nhận thức, trí nhớ, ngôn ngữ, cảm xúc). Điều này gợi ý chính quá trình chuyển dạ sinh non có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thai, độc lập với tuổi thai lúc sinh.
Trước đây, nhóm tác giả đã chứng minh thai có nhiễm trùng hoặc viêm trong buồng ối (IAI) bị phì đại cơ tim đồng tâm và rối loạn tâm trương. Câu hỏi đặt ra: thai dọa sinh non nhưng không có IAI, được quản lý như thai nguy cơ thấp, liệu tim có thay đổi không?
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế: nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu tại hai trung tâm tuyến cuối ở Barcelona (Hospital Clínic và Hospital Sant Joan de Déu), 9/2018 – 4/2021.
- Nhóm nghiên cứu: thai phụ một thai, ối còn, nhập viện vì chuyển dạ sinh non từ 23 đến 34 tuần (cơn co đều kèm chiều dài cổ tử cung dưới bách phân vị 5). Tất cả được chọc ối để loại trừ nhiễm trùng (cấy, PCR 16S) và viêm (IL-6 ối).
- Loại trừ: sinh trong vòng 4 tuần sau nhập viện, sinh trước 34 tuần, đa thai, viêm màng ối lâm sàng, dị tật lớn hoặc bất thường nhiễm sắc thể.
- Nhóm chứng: thai phụ một thai không dọa sinh non, ghép cặp 1:1 theo tuổi thai.
- Siêu âm tim thai: trong 72 giờ sau nhập viện và lặp lại sau 4 tuần, theo quy trình chuẩn: hình thái tim (diện tích, chỉ số cầu hóa, độ dày thành), chức năng tâm thu (TAPSE, MAPSE, SF, FAC, thể tích nhát bóp, cung lượng tim) và tâm trương (E/A, phân suất thời gian đổ đầy, IRT).
- Chỉ điểm tim trong nước ối: troponin I và NT-proBNP, so với 20 mẫu ối từ ngân hàng sinh học.

Tất cả thai phụ dọa sinh non được tiêm corticoid trưởng thành phổi (betamethason 12 mg × 2 liều) và giảm co (atosiban hoặc nifedipin) khi không có chống chỉ định.
Kết quả lần siêu âm thứ nhất (khi nhập viện)
Hai nhóm tương đồng về tuổi thai, ước lượng cân nặng thai và Doppler thai – bánh rau. Tuy vậy, tim của thai dọa sinh non đã khác biệt:
- Hình dạng tim tròn hơn: chỉ số cầu hóa toàn bộ (trung vị) 1,17 so với 1,23 (p = 0,012), chủ yếu do tái cấu trúc thất phải; không phì đại cơ tim, không tim to.
- Nhĩ phải lớn hơn: tỉ lệ diện tích nhĩ phải / diện tích tim 0,18 so với 0,16 (p = 0,006).
- Chức năng tâm thu thất phải tăng: TAPSE 6,5 so với 6,0 mm (p = 0,036), chỉ số thể tích nhát bóp thất phải tăng, trong khi cung lượng tim toàn bộ và nhịp tim không khác.
- Dấu hiệu sớm rối loạn tâm trương thất phải: E/A van ba lá 0,65 so với 0,72 (p = 0,027), thời gian tâm trương kéo dài chủ yếu do sóng A kéo dài.
- Tim trái: không khác biệt có ý nghĩa.

Kết quả lần siêu âm thứ hai (sau 4 tuần)
- Tâm thu đã bình thường: không còn khác biệt giữa hai nhóm.
- Tim vẫn tròn: chỉ số cầu hóa 1,16 so với 1,25 (p = 0,036).
- Thất phải lớn hơn: tỉ lệ diện tích thất phải / diện tích tim 0,26 so với 0,24 (p = 0,037), đường kính động mạch phổi hơi tăng; nhĩ phải đã trở về bình thường; vẫn không tim to.
- Rối loạn tâm trương thất phải vẫn tồn tại: phân suất thời gian đổ đầy van ba lá 0,39 so với 0,35 (p = 0,001), thời gian co nhĩ kéo dài (0,23 so với 0,20; p = 0,039).
- Tỉ lệ thai nhỏ so với tuổi thai (EFW dưới bách phân vị 10) ở nhóm dọa sinh non tăng từ 3% lên 22%, trong khi nhóm chứng ổn định khoảng 9%.
Các kết quả gần như không đổi khi chỉ phân tích những ca sinh đủ tháng.
Chỉ điểm tổn thương cơ tim trong nước ối
- Troponin I (tổn thương tế bào cơ tim) cao hơn có ý nghĩa: trung vị 1.222,8 so với 841,3 pg/mL (p = 0,026).
- NT-proBNP (quá tải tim) phát hiện được ở 8/32 ca (25%) dọa sinh non, không phát hiện ở mẫu chứng nào; khác biệt chưa đạt ý nghĩa thống kê.

Giải thích cơ chế: hai giai đoạn thích nghi của thất phải
Các tác giả mô tả đáp ứng của tim thai theo hai giai đoạn, chỉ liên quan đến thất phải:
- Giai đoạn cấp (khi nhập viện): tim ở trạng thái “tăng động” dưới quá tải áp lực, có thể do tăng thể tích tuần hoàn tương đối. Thất phải co bóp mạnh hơn (TAPSE, thể tích nhát bóp tăng), chuyển sang hình dạng tròn hơn, tiết kiệm năng lượng hơn; nhĩ phải giãn để chịu áp lực đổ đầy tăng; troponin I ối tăng.
- Giai đoạn thích nghi kéo dài (sau 4 tuần): kích thích cấp đã hết nhưng tim vẫn giữ hình dạng tròn, thất phải và động mạch phổi lớn hơn, rối loạn giãn thất phải vẫn còn, gợi ý vẫn tồn tại một kích thích kéo dài.
Kiểu tái cấu trúc này khác với phì đại đồng tâm khi có viêm – nhiễm trùng ối, và giống một phần với thai chậm tăng trưởng nhẹ, khởi phát muộn. Khoảng 30% ca chuyển dạ sinh non có rối loạn chức năng bánh rau tương tự FGR; vì thất phải là thất chiếm ưu thế và gắn trực tiếp hơn với tuần hoàn bánh rau, nên thất phải bị ảnh hưởng trước. Kết quả đã được hiệu chỉnh theo tỉ lệ thai nhỏ so với tuổi thai.
Corticoid trước sinh chủ yếu ảnh hưởng thoáng qua lên nhịp tim và Doppler, không gây thay đổi hình thái, nên khó giải thích được những thay đổi này. Stress của mẹ khi nằm viện là yếu tố chưa thể loại trừ.
Hạn chế của nghiên cứu
- Cỡ mẫu nhỏ (32 ca), có thể bỏ sót một số khác biệt.
- Nhóm chứng của chỉ điểm ối lấy hồi cứu từ ngân hàng sinh học, khác quần thể siêu âm.
- Đo siêu âm không làm mù, dù kết quả nhất quán với chỉ điểm sinh học (được đo mù).
- Không phân tích bánh rau và không theo dõi tim sau sinh.
- Chỉ áp dụng cho thai dọa sinh non sinh từ 34 tuần trở lên.
Ý nghĩa trong thực hành siêu âm tại Việt Nam
- Dọa sinh non rất thường gặp tại các khoa sản. Nghiên cứu nhắc rằng thai “đã qua cơn dọa sinh non” không hẳn là thai hoàn toàn bình thường về tim mạch và tăng trưởng.
- Khi siêu âm theo dõi sau đợt dọa sinh non, nên chú ý tăng trưởng thai (tỉ lệ thai nhỏ so với tuổi thai tăng từ 3% lên 22% sau 4 tuần) và Doppler thai – bánh rau.
- Ở cơ sở có siêu âm tim thai, có thể quan sát hình dạng tim ở mặt cắt bốn buồng (tim tròn, thất phải lớn), TAPSE và Doppler dòng qua van ba lá; tuy nhiên đây là dữ liệu nghiên cứu, chưa phải chỉ định thường quy.
- Về lâu dài, nhận diện sớm nhóm trẻ này có thể mở ra cơ hội dự phòng tim mạch sau sinh, khi có thêm bằng chứng từ các nghiên cứu theo dõi sau sinh.
Kết luận
Thai bị dọa sinh non không có viêm – nhiễm trùng ối, sinh gần đủ hoặc đủ tháng, có dấu hiệu tái cấu trúc tim và rối loạn chức năng tâm trương thất phải dưới lâm sàng, tồn tại ít nhất 4 tuần; chức năng tâm thu thất phải chỉ tăng thoáng qua khi nhập viện. Troponin I nước ối tăng củng cố các phát hiện trên siêu âm. Cần nghiên cứu theo dõi sau sinh để biết những thay đổi này kéo dài bao lâu và có ý nghĩa gì với sức khỏe tim mạch về sau.
Câu hỏi thường gặp
Dọa sinh non nhưng sinh đủ tháng thì tim thai có bị ảnh hưởng không?
Theo nghiên cứu này, có thể có. Thai dọa sinh non (không viêm – nhiễm trùng ối) có tim tròn hơn, thất phải lớn hơn và rối loạn giãn thất phải nhẹ, kéo dài ít nhất 4 tuần. Đây là thay đổi dưới lâm sàng, không phải bệnh tim bẩm sinh.
Thay đổi tim thai ở đây có phải do thuốc corticoid?
Các tác giả cho rằng khó có khả năng: corticoid chủ yếu ảnh hưởng thoáng qua lên nhịp tim và Doppler, không làm thay đổi hình thái tim như quan sát được.
Thai phụ từng dọa sinh non có cần siêu âm tim thai không?
Hiện chưa có khuyến cáo siêu âm tim thai thường quy cho nhóm này. Mẹ nên tái khám đúng lịch để theo dõi tăng trưởng thai và Doppler; bác sĩ sẽ chỉ định thêm thăm dò khi cần.
Tài liệu tham khảo
Murillo C, Palacio M, Rueda C, Larroya M, Boada D, Ponce J, Guilleumes M, Gómez O, Ferrero S, Gratacós E, Crispi F, Cobo T. Fetuses exposed to an episode of threatened preterm labor delivered at or near term show signs of cardiac remodeling. Ultrasound Obstet Gynecol. 2026;68(3):395–405. DOI: 10.1002/uog.70304 · PubMed: 42604600 · Toàn văn: PMC13532152.
Bài gốc được công bố truy cập mở theo giấy phép Creative Commons Ghi công 4.0 (CC BY 4.0). Bài viết này là bản tóm lược và biên dịch tiếng Việt do BSPHONCDHA thực hiện; các hình minh họa lấy từ bài gốc, chú thích được dịch sang tiếng Việt. Bài viết mang tính thông tin, không thay thế tư vấn trực tiếp của bác sĩ sản khoa theo dõi thai kỳ của bạn.
Học sâu hơn về siêu âm tim thai: Sách Siêu âm tim thai 2024 – Tim bình thường và bất thường · Gói thành viên BSPHONCDHA

